Thứ Hai, 17 tháng 3, 2008

Triết lý trong văn hoá phương Đông

Tác giả đã sơ bộ trình bày một vài vấn đề triết lý trong văn hoá phương Đông - một trong những cái nôi văn minh của nhân loại - thể hiện ở ba nước: Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam. Dĩ nhiên, phương Đông như phần mở đầu đã nói còn bao gồm nhiều nước khác nữa mà tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu.
Trước hết, tại sao tác giả lại chọn Ấn Độ và Trung Quốc? Đối với tác giả, văn hoá truyền thống, tức văn hoá Việt Nam trước khi có sự du nhập của văn hoá phương Tây, nó chịu hay bị ảnh hưởng khá sâu sắc của hai nền văn hoá lớn, đó là Ấn Độ và Trung Quốc. Tùy từng thời kỳ, tùy từng khu vực mà màu sắc Ấn - Trung có sự thay đổi. Trong cuộc Hội thảo khoa học Quốc tế về Nho giáo được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã từng phát biểu và cho rằng trong mỗi người Việt truyền thống dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đều có hình ảnh của hai người, một là đức Phật, to hơn nhưng mờ hơn, hai là đức Khổng Tử nhỏ hơn nhưng rõ hơn. Chẳng hạn, thời kỳ Bắc thuộc, mặc dù ta nội thuộc vào phương Bắc, nhưng về văn hoá ta lại chịu ảnh hưởng nhiều từ phía Ấn Độ mà đại diện là Phật giáo Ấn Độ, còn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX ta lại chịu ảnh hưởng nhiều từ phía Trung Hoa mà đại diện là Nho giáo Thời kỳ ở giữa đặc biệt là thời Lý, Trần, ta tiếp thu tinh hoa văn hoá của cả Ấn Độ lẫn Trung Hoa, bởi vậy, đây là thời kỳ phát triển rực rỡ về mọi mặt, trong đó có văn hoá của dân tộc.
Nghiên cứu văn hoá được tiến hành trên nhiều góc độ khác nhau với những cách tiếp cận khác nhau. Ở đây tác giả phân tích văn hoá chủ yếu trên góc độ triết lý. Dĩ nhiên từng thời kỳ nó lại có màu sắc khác nhau, chẳng hạn thời Bắc thuộc ta đề cao triết lý Nhu, thời kỳ thế kỷ XV - XIX ta lại đề cao triết lý Cương, thời Lý Trần thì Cương Nhu kết hợp. Nói thế không có nghĩa là Cương Nhu tách biệt thuần tuý, mà trong Cương vẫn có Nhu và ngược lại, vấn đề là cái nào nổi trội hơn. Và dù Cương hay Nhu, dù ân Độ hay Trung Hoa, chúng đều phải đi qua một bộ lọc, đó là cái bản địa mà hạt nhân của nó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc.
Như vậy, qua nghiên cứu triết lý trong văn hoá ba nước trên cũng phần nào giúp chúng ta hiểu tính cách của người Việt Nam, từ đó ta có những chiến lược phát triển con người nói riêng và văn hoá nói chung một cách thích hợp, góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước, hướng nhanh đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Thứ Năm, 13 tháng 3, 2008

Chợ Bến Thành


Địa chỉ: Đường Lê Thánh Tôn, P.BT, Q.1
Lúc đầu phố chợ Bến Thành ở phía Đông huyện Bình Dương, nằm dọc theo sông Sài Gòn, trước thành Phiên An (Gia Định) nên được gọi là chợ Bến Thành. Sau cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi (1833 - 1835), phố xá bị tàn phá, chợ không còn sầm uất. Tháng 2/1859, Pháp chiếm Gia Định, chợ bị thiêu hủy. Sau đó Pháp cho xây một nhà lồng chợ gọi là chợ Vải, gần Tổng ngân khố. Tháng 7/1870 chợ bị cháy, được xây lại bằng cột gạch, sườn gỗ, lợp ngói, có 5 gian.
Giữa năm 1911, ngôi chợ cũ bị phá bỏ, dời về địa điểm gần ga xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Năm 1912, lấp ao Boresse, xây chợ mới. Ngày 28/3/1914 khánh thành chợ mới. Chợ trải qua nhiều lần trùng tu, lần mới nhất vào tháng 6/1985, được sửa chữa lớn và nâng cấp nhà lồng chợ. Trước mặt chợ có bùng binh mang tên Cuniac, tên của một thị trưởng thời Pháp thuộc, sau 1963 đổi lại là công viên Quách Thị Trang. Cửa chính của chợ có một tháp đồng hồ 3 mặt. Hai bên tả hữu có 3 nóc nhà chợ lợp ngói. Chợ có 4 cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc mở ra 4 đường Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lê Lợi, Lê Thánh Tôn, Q.1. Đây là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của thành phố và được xem là biểu tượng của Sài Gòn.
Chợ Bến Thành là một khu trung tâm buôn bán không chỉ của TP Hồ Chí Minh mà còn của các tỉnh phía Nam. Hàng hóa trong chợ rất phong phú, dường như có đủ mặt các sản vật trong nước và hàng công nghệ hiện đại trên thế giới

Nhà thờ Đức Bà


Địa chỉ: 1 Công xã Paris, P.BN, Q.1
Mặt tiền nhà thờ trông ra đường Nguyễn Du, lưng giáp đường Lê Duẩn, hai bên hông là quảng trường Công xã Paris. Khởi công ngày 7/10/1877 có diện tích rộng 35m, dài 93m, đồ án thiết kế do kiến trúc sư Pháp Bonard thực hiện theo kiểu Roman cải biên, mô phỏng nhà thờ Notre Dame của Paris , nhưng nhỏ hơn và thuộc loại đẹp nhất trong số các nhà thờ ở các nước thuộc địa của Pháp thời đó và giáo sĩ Colombert đã đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nhà thờ, đến ngày 11/4/1880 thì khánh thành. Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6m và hai tháp có 6 chuông đồng lớn nặng 25.850 tấn. Ðứng trước nhà thờ là tượng Ðức mẹ Hòa Bình bằng cẩm thạch ý, cao 4,2m, nặng 8,5 tấn làm tại Rome được dựng vào năm 1959. Tường xây bằng gạch trần (không tô, phết) màu nâu đỏ đưa từ Marseille sang. Những lỗ thông hơi xuyên thẳng vào tường rất khéo trông như những hoa văn trên tấm lụa. Vào ngày 7 - 8/12/1959, Tòa thánh Vatican đã có quyết định nâng nhà thờ Đức Bà lên hàng Vương cung Thánh đường (Basilique). Hàng ngày, nhà thờ có nhiều giờ lễ khác nhau. Đặc biệt, ngày chủ nhật vào lúc 9 giờ 30, có lễ dành cho người nước ngoài

Trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố

Địa chỉ: 86 Lê Thánh Tôn, P.BN, Q.1
Nằm trên một khu đất rộng giới hạn bởi đường Pasteur (phía tây), Lý Tự Trọng (phía bắc), Đồng Khởi (phía đông) và Lê Thánh Tôn (phía nam). Thời Pháp thuộc, nơi đây có các tên gọi là dinh Xã Tây, dinh Đốc Lý, là trụ sở làm việc của Hội đồng thành phố. Về sau được đổi tên là Tòa thị sảnh. Giai đoạn từ năm 1954 - 1975, gọi là Tòa đô chính Sài Gòn. Sau 30/4/1975 cho đến nay là trụ sở của UBND TP.HCM.
Việc xây cất tòa nhà này được các quan chức thực dân lưu ý đến từ năm 1871 và các năm sau đó. Nhưng mãi đến năm 1898 mới được chính thức khởi công xây dựng theo đồ án của kiến trúc sư Gardès. Phần trang trí tòa nhà lúc đầu định làm theo bản vẽ của họa sĩ Ruffier, nhưng sau lại được giao cho họa sĩ Bonnet. Năm 1909, tòa nhà được khánh thành.
Tòa nhà có cấu trúc khá đơn giản nếu nhìn về đại thể. Phần chính giữa là tháp nhọn nhô cao, hai bên có hai tầng mái cân đối. Hai phía trái, phải tòa nhà thấp hơn một chút. Phần trang trí, ngoài các họa tiết, có 3 bức tượng đắp nổi. Đó là tượng một phụ nữ và một đứa bé đang chế ngự bầy thú dữ (ở giữa) và hai phụ nữ khác trong tư thế cầm gươm (ở hai bên trái, phải). Tòa nhà này vào loại lớn và xưa của Sài Gòn, cách đây 100 năm. Thuở ấy, phía trước nhìn ra cảng Bến Nghé còn là một khoảng không. Nay là đại lộ Nguyễn Huệ.
Là trụ sở của UBND TP.HCM, nơi đây đã ghi dấu những sự kiện lịch sử. Cuộc biểu tình lớn của đồng bào đòi công ăn việc làm năm 1937. Cuộc mít tinh của nửa triệu người nhân lễ ra mắt của Ủy Ban Hành Chính lâm thời Nam Bộ ngày 25/8/1945 (Pháp chiếm lại dinh Đốc Lý sau 23/9/1945). Cuộc đấu tranh bãi công bãi thị ngày 9/1/1950. Nhiều cuộc mít tinh, tuần hành diễn ra trước tòa nhà trụ sở UBND TP.HCM nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn sau 1975. Đặc biệt phía trước tòa nhà là vườn hoa cây cảnh, nơi đặt bức tượng Bác Hồ với thiếu nhi của nhà điêu khắc Diệp Minh Châu

Hội trường Thống Nhất


Địa chỉ: 135 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.BT, Q.1
Hội trường Thống Nhất – Dinh Ðộc Lập tọa lạc trên vùng đất rộng gần 12 mẫu Tây. Khu đất được giới hạn bởi bốn con đường: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Du, Huyền Trân Công Chúa, Nguyễn Thị Minh Khai. Sau khi hạ Ðại Ðồn Chí Hòa năm 1861, với chiến lược lâu dài trong việc thôn tính Việt Nam và Ðông Dương, chính phủ Pháp bắt tay vào chỉnh trang đô thị sài Gòn và xây dựng những công trình kiên cố. Dinh Norrodom (còn có tên gọi là Dinh Toàn Quyền hay Dinh Thống Soái) được xây dựng theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư người Pháp Hermite. Viên đá đầu tiên được đặt khởi công cho công trình xây dựng dinh vào ngày 23/2/1868 do Ðô đốc De La Grandière chủ tọa với sự tham dự của nhiều quan chức Pháp – Việt. Theo sách của Jules Boissère thì công trình này phải mất đến 21 năm cho quá trình xây dựng và trang trí nội thất. Ðến năm 1889 dinh mới được khánh thành, chi phí xây dựng lên đến 4 triệu Frans vàng. Hiệp định Genève được ký kết, ngày 7/9/1954 dinh Norrodom được giao lại cho chính phủ miền Nam Việt Nam và được đổi tên gọi là Dinh Ðộc Lập, dùng làm phủ tổng thống chế độ Sài Gòn cũ. Ngày 27/2/1962, dinh bị ném bom làm sập hoàn toàn phía trái Dinh Ðộc Lập. Sau sự cố đó, chính quyền đã ra lệnh xây lại dinh này.
Tòa nhà được khởi xây dựng ngày 01/7/1962 và được khánh thành ngày 03/10/1966. Theo đồ án, tòa nhà có diện tích xây dựng 45.000m2 (rộng 21 gian 85m, sâu 19 gian 80m). Diện tích mặt sàn sử dụng khoảng 20.000m2 , gồm ba tầng chính, hai gác lửng, một sân thượng (có sân bay trực thăng) và một tầng nền. Tổng số các phòng trong dinh là 95 phòng, không kể các khu vực vệ sinh, hành lang và khách sảnh. Các phòng lớn bố trí cho các công việc đối nội, đối ngoại nằm ở các tầng trệt và lầu 1, lầu 2. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ cho biết “xây dựng dinh tốn khoảng 150.000 lượng vàng và mỗi quân nhân, nhân viên chính quyền thời ấy phải đóng góp mỗi người một ngày lương”. Một vài số liệu về vật liệu đã sử dụng bê tông cốt sắt độ 12.000m3 , gỗ quý 200m3 , kính cho các cửa 2.000m2 , đá rửa và đá mài 20.000m2 …
Ở thời điểm nào, tòa nhà cũng là trung tâm đầu não của chính quyền đương thời. Sự thay đổi tên gọi của tòa nhà sau mỗi biến cố lịch sử (dinh Norodom: 1863 - 1954, dinh Thủ tướng: 9/1954 – 10/1956, dinh Ðộc Lập: 10/1956 - 1975, Hội trường Thống Nhất từ 25/6/1976 đến nay) gắn liền với quá trình đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Trưa ngày 30/4/1975, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 thuộc Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn II đã húc đổ cổng sắt dinh Ðộc Lập, đoàn xe tăng quân giải phóng nối đuôi nhau tiến vào dinh 11 giờ 30 cùng ngày lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên kỳ đài của Dinh. Với những ý nghĩa lịch sử trọng đại đó, tại kỳ họp thứ nhất của Quốc Hội khóa VI, ngày 25/6/1976 Dinh Ðộc Lập đã được đổi tên thành Hội trường Thống Nhất và được đặc cách xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa theo quyết định số 77A-VHQÐ ngày 25/6/1976

Nhà hát Thành phố

Địa chỉ: 7 Công trường Lam Sơn, P.BN, Q.1
Nằm ở điểm cuối Lê Lợi, tọa lạc trên con đường Ðồng Khởi - trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh là hai khách sạn lớn Caravelle và Continental.
Nhà hát được xem như một công trình văn hóa tiêu biểu và tốn kém nhất ở Sài Gòn thời Pháp thuộc. Xây cất từ năm 1898 do kiến trúc sư Ferret thiết kế, theo phong cách Barốc thời Đệ tam Cộng hòa Pháp đặc biệt với nhiều tác phẩm trang trí mặt tiền đặt làm từ bên Pháp chở sang. Khánh thành vào ngày 1/1/1900, nhằm truyền bá văn hóa Pháp. Bố cục bắt chước theo kiểu nhà hát kịch Opéra ở Paris, với phòng khán giả, sân khấu lớn, không gian phần giải lao rộng rãi. Có thêm tầng hầm, mái gãy dạng Mansart, trước lợp tấm đồng. Lúc đầu nhà hát hoạt động sôi nổi với các đoàn hát từ chính quốc sang, sau bị ngành chiếu bóng, nhà hàng, vũ trường cạnh tranh nên chỉ sinh hoạt cầm chừng với các buổi ca hát, hòa nhạc và cải lương. Thời 1955 - 1975 dùng làm Hạ nghị viện, nay khôi phục lại làm nhà hát thành phố nhưng qui mô quá nhỏ so với yêu cầu một Sài Gòn quá lớn ngày nay.
Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh có kiến trúc cổ kính, uy nghi với 1 tầng trệt, hai tầng lầu, 1.800 ghế, không khí thoáng, hệ thống âm thanh ánh sáng hiện đại. Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh là nơi tổ chức biểu diễn sân khấu chuyên nghiệp như: biểu diễn kịch nói, cải lương, ca nhạc, múa ba lê, dân tộc, opera cho tất cả các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước. Tại đây có thể tổ chức những buổi mít tinh, kỷ niệm những ngày lễ lớn, các hội thảo chuyên đề...